Chuyển đến nội dung chính

Averroes – Wikipedia tiếng Việt


Averroes (Ibn Rushd)

AverroesColor.jpg
Thời đại
Triết học trung cổ
Lĩnh vực
Học giả Ả Rập
Trường phái
Maliki, Trường phái Averroes
Sở thích
Đạo Hồi, Thần học, Luật đạo Hồi, Toán học, Y học, Triết học
Ý tưởng nổi trội
Tư tưởng thế tục, sự hòa hợp của nguyên nhân với niềm tin, triết học với tôn giáo và Trường phái Aristotle với đạo Hồi


Averroës (dạng Latinh hóa phổ biến bên ngoài thế giới Ả Rập của Ibn Rushd (tiếng Ả Rập: ابن رشد‎), tên đầy đủ: ʾAbū l-Walīd Muḥammad Ibn ʾAḥmad Ibn Rušd) là một nhà triết học, thầy thuốc và nhà thông thái người Al-Andalus-Ả Rập, một nhà thông thái về triết học, thần học, luật học, luật Maliki, thiên văn học, địa lý học, toán học, y học, vật lý, tâm lý và khoa học. Ông sinh ra tại Córdoba (thuộc Tây Ban Nha ngày nay) và mất tại Marrakech (thuộc Maroc ngày nay). Trường phái triết học của ông được gọi là trường phái Averroes. Ông cũng được coi là cha đẻ của chủ nghĩa thế tục ở Tây Âu.





Averroes được sinh ra trong một gia đình danh giá: Nhiều đời trong gia đình này là những học giả về luật. Những người gần với thế hệ của Averroes nhất gồm có ông nội và cha. Cả hai người đều là các thẩm phán của xứ Córdoba. Vả bản thân của Averroes cũng được tiến cử vào tòa án. Điều này đã giúp ông có được một mối quan hệ bạn bè với nhà vật lý Ibn-Zuhr. Vào năm 1160, Averroes trở thành vọ pháp quan của thành phố Sevilla (thuộc Tây Ban Nha bây giờ). Ấy là chưa kể nhiều chức vụ về luật pháp ở Sevilla và Córdoba.

Tuy nhiên, công việc không được thuận lợi trong mọi lúc. Vào cuối thế kỷ XII, tại Andalusi, làn sóng cuồng tín diễn ra. Chính sự kiện này đã khiến cho Averroes bị đày ra một vùng hẻo lánh thuộc Córdoba.

Và đó không phải là lần duy nhất Averroes bị đi đày. Vì biện hộ triết học trong hoàn cảnh không được thuận lợi, ông đã bị bãi chức và đi đày bởi vua Abu Yusuf. Nhưng may mắn là ông đã không bị thất sủng lâu. Tuy vậy, ông cũng bị ảnh hưởng không hề nhỏ bởi sự kiện này. Sức khỏe giảm sút đã khiến ông trút hơi thở cuối cùng vào năm 1198. Thi hài của ông lúc đầu được chôn cất tại Marrakech, sau đó lại được chuyển đến Córdoba.



Tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]


Mặc dù là một người làm pháp luật, Averroes cũng có những đóng góp ở nhiều lĩnh vực. Tiêu biểu cho những đóng góp của ông đó là triết học.


Những nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]


Triết học<[sửa | sửa mã nguồn]


Triết học Aristotle và tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Averroes đac góp phần trình bày và thấu hiểu triết học của Aristotle. Nhà triết học này còn cố gắng tìm ra sự hòa hợp giữa tư tưởng của triết gia người Hy Lạp với tư tưởng của đạo Hồi. Quan điểm của Averroes đó là giữa triết học và tôn giáo không hề có bất kỳ một sự xung đột nào. Cũng theo ông, sự siêu hình có thể được biểu diễn theo hai cách: hoặc theo triết học (kiểu Aristotle), hoặc theo tôn giáo (những gì mà người bình thường có thể hiểu). Dù không đề xuất một thứ chân lý nào cả thể hiện sự hòa hợp của hai điều này, tư tưởng của Averroes được đặt một cái tên cụ thể (bởi các tín đồ của Kitô giáo: chân lý kép.


Ba khảo luận[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bằng chứng tiêu biểu cho thấy Averroes nhiệt tình như thế nào với triết học của Aristotle. Cụ thể của vấn đề, chúng ta sẽ đến với chúng. Chúng ta sẽ chúng thành hai phần:


  • Các khảo luận thứ nhất và thứ hai: Ở hai cuốn này, ta có thể để ý đến một điểm quan trọng. Đó là việc Averroes đề cao những nhà siêu hình học sử dụng chứng cứ (phép tam đoạn luận) và thẩm quyền (vả cả nghĩa vụ nữa) hơn những người biện chứng của đạo Hồi trong việc lý giải các học thuyết có trong luật lệ tiên khải. Ông tin rằng tiến tới ý nghĩa sâu xa, đích thực là mục tiêu của triết học trên con đường tời chân lý và chúng không thể nào được tiếp nhận bởi đám đông, những người chỉ có thể tiếp xúc với cái vẻ ngoài đơn sơ của kinh văn. Ở đây, Averroes đã sử dụng ba lập luận rất nổi tiếng của Aristotle: chứng minh, biện chứng và thuyết phục.

  • Khảo luận thứ ba lại thể hiện sự bênh vực của Averroes cho triết học Aristotle trước ý kiến của al-Ghazali khi ông này cho rằng triết học của Aristotle đang chống lại những gì mà đạo Hồi đã dạy
Khởi nguồn của thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư tưởng duy tâm, Averroes cho rằng Thượng đế là người khởi tạo của thế giới. Ông không chấp nhận sự phát triển của thế giới theo tiến trình thời gian. Ông tin mọi linh hồn đều bắt nguồn từ một linh hồn phổ quát và cũng tin rằng có sự vĩnh cửu.


Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Averroes tiếp thu chọn lọc, thậm chí là phê phán những nhà triết học Themistius, Alexander xứ Aphrodisias, al-Farabi, Avicenna.


Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]


Triết học[2][sửa | sửa mã nguồn]


Viết lách[sửa | sửa mã nguồn]


Chú giải triết học Aristotle[2][sửa | sửa mã nguồn]


Nói về các trước tác của Averroes, ta có nhiều điều để nói. Trong khoảng thời gian 1169 đến 1195, ông viết chú giải cho hàng loạt tác phẩm của Aristotle (có duy nhất tác phẩm Republica của Plato là tác phẩm ngoài Aristotle vì Averroes không có cuốn Potilica). Những chú giải này được gộp với các tác phẩm tiếng Latin của nhà triết học Hy Lạp. Hiện nay, chú giải của Averroes được lưu giữ theo ba kiểu ngôn ngữ: giữ nguyên tiếng Arab, dịch sang tiếng Do Thái cổ và cả hai.


Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]


Là người đa tài, Averroes viết các tác phẩm ở nhiều lĩnh vực: triết học, luật pháp, thần học. Tác phẩm đầu tiên của ông là cuốn Y khoa tổng quát. Còn những tác phẩm quan trọng nhất của Averroes là ba khảo luận về tôn giáo và triết học. Rất tiếc là chỉ có số ít tác phẩm luật pháp và không có tác phẩm thần học nào được lưu giữ cho đến bây giờ.





  1. ^ “H”. Truy cập 7 tháng 10 năm 2015. 

  2. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bách khoa tri thức



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Lương Khánh – Wikipedia tiếng Việt

Lương Khánh (chữ Hán giản thể:良庆区, bính âm: Liángqìng Qū, Hán Việt: Lương Khánh khu ) là một quận tại thành phố Nam Ninh, khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 1369 km2, dân số năm 2004 là 208.000 người. Quận này được chia thành các đơn vị hành chính gồm 5 trấn: Lương Khánh, Na Mã, Na Trần, Đại Đường, Nam Hiểu.

Thanh Tú (diễn viên) – Wikipedia tiếng Việt

Vũ Thanh Tú Sinh 13 tháng 8, 1944 (74 tuổi) Hà Nội Vai diễn đáng chú ý Nhu (Sao tháng Tám) Chồng Phạm Kỳ Nam Đối với các định nghĩa khác, xem Thanh Tú. Thanh Tú (tên thật Vũ Thanh Tú , sinh 13 tháng 8 năm 1944) là một nữ diễn viên điện ảnh và kịch nói Việt Nam. Thanh Tú sinh năm 1944 trong một gia đình trí thức ở Hà Nội. Bà là con thứ hai trong một gia đình có 8 anh chị em, cha bà nguyên là Thứ trưởng Bộ Xây dựng. Năm 9 tuổi, bà được gửi đi học tại Trung Quốc trong chương trình dành cho con em cán bộ cấp cao. Trở về nước, Thanh Tú học ở trường THPT Chu Văn An, sau đó đi học Đại học Kiến trúc. Đang học trường Kiến trúc, bà bỏ đi sang thi vào Đoàn văn công Hà Nội. Từ năm 1960 đến 1964, bà theo học và tốt nghiệp tại tốt nghiệp Trường Sân khấu Hà Nội (nay là Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội). Bà trở thành một diễn viên kịch, từng thành công với những vai diễn như: Hương Giang trong vở Tiền tuyến gọi do đạo diễn Trần Hoạt dàn dựng, Tanhia trong vở kịch cùng tên, đạt kỉ lục với hơn 1200 su...

Thông vỏ trắng Bắc Mỹ – Wikipedia tiếng Việt

Thông vỏ trắng Bắc Mỹ (danh pháp hai phần: Pinus albicaulis ) là một loài thực vật trong họ Pinaceae, sinh sống trong khu vực miền núi ở miền tây Hoa Kỳ và Canada, đặc biệt là khu vực cận kề núi cao ở Sierra Nevada, dãy núi Cascade, dãy núi Duyên hải Thái Bình Dương, miền bắc dãy núi Rocky (bao gồm cả Hệ sinh thái Đại Yellowstone). Thông vỏ trắng thông thường là loài thông của các cao độ cao nhất trong các dãy núi này, tạo ra đường giới hạn cây thân gỗ. Vì thế, chúng thường được tìm thấy như là cây rừng thấp , các cây bị lùn đi và mọc gần sát với mặt đất. Trong các điều kiện thích hợp hơn, cây có thể cao tới 20 m, mặc dù một số cây có thể cao tới 27 m. Thông vỏ trắng là thành viên của nhóm thông trắng, chi Pinus phân chi Strobus , nhánh Strobus và tương tự như các thành viên của nhóm này, các lá kim của nó mọc thành chùm 5 lá, với bao vỏ sớm rụng. Đây là đặc trưng phân biệt thông vỏ trắng với các họ hàng từ loài thông Lodgepole, với 2 lá kim mỗi bó và thông Ponderosa hay thông Jeffr...